Friday, July 10, 2015

Kinh Vạn Pháp Cứu Khổ Quan Âm Đại Sỹ



Hai Tiên nữ người trời giáng linh tại Việt Nam.
Tiên nữ thứ nhất.Liễu Hạnh Công Chúa là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng và Tây Vương Mẫu Đại Thiên Tôn.
Tiên nữ thứ hai. Bà Chúa Ba là con gái thứ ba của Ngọc Hoàng và Tây Vương Mẫu Đại Thiên Tôn…
Liễu Hạnh Công Chúa (Mẫu Nghi Thiên Hạ).
Bà Chúa Ba Công Chúa (Phật Tổ Quan Âm Hương Tích Động hay Phật Bà Nghìn Mắt Nghìn Tay) là em gái của Liễu Hạnh Công Chúa. vì lỡ đánh rơi chén ngọc trong ngày hội bàn đào mừng sinh nhật Tây Vương Mẫu
Hai Chị em bị phạm luật trời bị đày giáng xuống Việt Nam.
Tu tại Hương Tích Động. theo tích cổ đã có hơn ba nghìn năm trăm năm. Khi giáng xuống đầu thai tại nhân gian, cha ở nhân gian làm nhiều tội ác, khi xuống địa ngục muôn vạn hình-phạt.
   Để cứu cha bà đã chặt cánh tay và móc mắt vượt nghìn gian khổ để cứu cha. Cảm động lòng trời Ngọc Hoàng cử Đẩu Mẫu Nguyên Quân xuống ban tặng nghìn mắt nghìn tay để phổ độ cứu chúng sinh và nhân gian gọi là Phật Tổ Quan Âm Hương Tích nghìn mắt nghìn tay (hay gọi là Từ Hằng Chân Nhân, Quan Âm Đại Sỹ. Hoặc Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Bà đã hóa thân khắp nơi đâu có tiếng kêu cứu là có hiện thân. Bà Chúa Ba dùng thiên nhãn và pháp độn thông thiên địa để cứu ngay lập tức. Nhân gian gọi bà là Quan Âm cứu khổ cứu nạn. Trước kia khi tu tại hương tích động bà đã dùng pháp đoán quẻ thần tiên để biết việc lành dữ sắp sửa sảy ra. Bà dùng mỗi một sợi tóc là một quẻ, mỗi một con mắt là một thần thông. Mỗi một bàn tay là một thần cứu cho mọi sinh linh. Khi trở về trời bà đã để lại một trăm quẻ bói thần tiên nên người đời gọi là Quan Âm ban quẻ để biết họa phúc.
Trăm quẻ của Quan Âm Đại Sỹ ;con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế Đại Thiên Tôn muôn vạn người trên trái đất ngưỡng mộ, nhân gian tín cầu sẽ được linh ứng vô cùng và gọi là quẻ thần tiên.
Và đây là bộ Chân kinh linh ứng thần thông quảng đại. Tụng kinh này sẽ giải thoát tai ương và công đức vô cùng, mọi sự hanh thông.
Thái Ất chân nhân nói:
Nhà nào có Kinh này thường tụng tránh được nạn kiếp, bình an và tài lộc tự đến. Người tụng Kinh này sẽ được các thiên thần ở 10 cõi trời hộ thân. Thiên Địa cảm ứng, sau được Ngọc phù Bảo Thần Kim dịch luyện hình, hình thần cùng đạo hợp chân.


Cổ Phật có thi:
Truyền được Thánh đạo dẫn từ hành
Phộ độ quần mê luyện thánh quang
Nếu ngộ tiên thiên Thanh tĩnh đạo
Sống đời trường thọ của kim tiên.
Khổng Tử nói:

Kinh pháp kỳ diệu không thể tưởng
Không đầu, không đuôi lại vô hình
Nếu dùng trực giác mà thấy được
Người trần siêu phàm xuất thế nhân.
Đại Sỹ Quan âm nói:

Ta tụng kinh này cả vạn lần đã được chân đạo. Kinh này là pháp của trời. Người tập chẳng truyền cho hạ sỹ. Thủa xưa ta nhận được Kinh này từ Đông Hoa Đế Quân. Đông Hoa Đế Quân nhận được từ Kim Khuyết Đế Quân. Kim Khuyết Đế Quân nhận được từ Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu theo cách truyền miệng không ghi văn tự. Nay ta ghi thành sách mà truyền cho đời. Thượng Sỹ ngộ rồi sẽ lên Thiên Cung. Trung Sỹ tu rồi sẽ thành Tiên ở Nam Cung. Hạ Sỹ học được sẽ sống lâu trên đời, du hành tam giới vào được Kim Môn.











Kinh Vạn Pháp Cứu Khổ Quan Âm Đại Sỹ
 Khâm Tụng Tịnh Khẩu Thần Chú
Tịnh Khẩu Thần Chú
Đan chu khẩu thần
Thổ uế trừ phân
Thiệt thần chính luân
Thông mệnh dưỡng thần
La thiên sỉ thần
Khước tà vệ chân
Hầu thần hổ bôn
Thân khí dẫn tân
Tâm thần đơn nguyên
Mệnh ngã thông chân
Tư thần luyện dịch
Đạo khí thường tồn
Cấp cấp như luật lệnh
--------------****--------------

Tĩnh Tâm Thần Chú

Thái Thượng thái tinh
Ứng biến vô đình
Khu tà phọc mị
Bảo mệnh hộ thân
Chí tuệ minh tĩnh
Tâm thần an ninh
Tam hồn vĩnh cửu
Phách vô táng khuynh
Cấp cấp như luật lệnh

--------------****--------------


Tĩnh Thân Thần Chú
Dực hán thiên tôn
An úy thân hình
Đệ tử hồn phách
Ngũ tạng huyền minh
Thanh long bạch hổ
Đội trượng phân phân
Chu tước huyền vũ
Thị vệ ngã chân
Cấp cấp như luật lệnh
 --------------****--------------

Kính Thỉnh

Ở trên thiên cung
Đức Thiên Tôn thượng đế
Lệnh truyền khắp càn khôn
Công tựu vòng nhật nguyệt.
Kính nghĩ đức thành chiết
Hiệu gọi là Quán Âm.
Mở thẳng con đường vô vi.
Trên núi hoa nở tươi rực rỡ

Dưới trần Ngọc Báu sáng long lanh.
Chốn Bồng Đảo chìm chìm im ắng
Nguyên mong đức đại từ đại bi.
Hương Tích Động hiện tướng uy nghi
Hiện ra hình ngàn mắt ngàn tay.

Nay ngài giáng hạ cứu dân muôn loài.

Tụng kinh Tiên Thánh phát từ bi
Diên thời tích phúc ý thân vi
Thuận nhược thế nhân năng bội phục
Tai tiêu bệnh giải tại ư tư
Tụng chi nhất biến thiên tường tập
Kiên trì bách biến thọ tế mi
Tiêu diêu khoái lạc thăng thiên giới
Kiền thành trì tụng cửu quy y
Niệm Quan Âm cứu khổ

Thỉnh Quan Âm cứu khổ.
Hữu thỉnh dáng lai lâm
Nhất thiết bất nhân tịnh bất tín
Vô lễ vô nghĩa chú tội danh
Đương năng tụng kinh tồn sám hối
Quan Âm từ linh xá tội hình

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ thập phương nhân
Nhất thiết tham sân si ái dục
Bất kính tam hữu chú tội hình
Đặng năn xám hối tụng thử kinh
Quan Âm từ bi ủng hộ chân

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ độ lượng thăng
Tiên pháp vô cùng độ chúng sinh
Chúng sinh xám hối từ kinh giả
Quan Âm từ bi độ lượng thăng

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ di thân thương sinh
Nhất thiết di thân hộ thượng sinh
Thượng sinh xám hối tụng kinh giả
Quan Âm cứu khổ vệ kỳ thân

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ Ngục âm ty
Âm ty Ngũ ngục phạm đao hình
Như hữu xám hối từ kinh giả
Quan Âm cứu khổ diệt tội vệ kỳ hồn

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ hựu lê dân
Lê dân xám hối tụng kinh dã
Lịch tỏ tấu trời tận thiên cung
Quan Âm cứu khổ chủ tiên danh

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ học
hành thông
Lê dân xám hối tụng học danh
Chiêu minh dực trạng quan đế quân
Quan Âm cứu khổ phù ứng danh

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ thiện nam tín nữ
Cánh hữu thiện nam tín nữ tụng kinh dả
Đẳng đăng trì tụng giải thoát thân
Trị hữu cứu nạn Quan Âm tịch
Quan Âm cứu khổ cập minh y

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ bảo hộ thân
Tụng kinh bảo hộ thân vô bệnh tật
Tiên tai thoát nạn hóa thanh bình
Hoặc tao quỷ súy triền hãm hại
Hoặc tao mãnh thú mắc thời ôn
Đã năng xám hối trì kinh tụng
Quan Âm cứu khổ vô bệnh xâm

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ kiền
hộ pháp chân
Tụng đế kiền hộ pháp Chân quân
Tụng nay vạn pháp Chân quân
Tụng nay đại pháp Chân quân
Tụng nay đa pháp chân quân
Tụng nay vệ pháp Chân quân
Tụng nay phụ pháp Chân quân
Tụng nay tả pháp Chân quân

Quan Âm ban pháp vạn pháp thần
 Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ chấn vong
Tụng khước trừ tà súy diệt vong
Tụng kinh hình họa hoạn tiêu diệt
Quan Âm cứu khổ khí trường tồn

Thỉnh Quan Âm từ bi cứu khổ giải oan gia
Tụng hựu hoặc hữu nhân hoặc ngộ
Quần nhân hoặc ngộ giải oan gia
Tụng kinh xám hối trì kinh niệm
Quan Âm cứu khổ ngộ oan gia

Thỉnh Quan Âm cứu khổ giải ách tâm
Tụng đãng năng sám hối tồn niệm tử kinh
Tụng giải ách thần tiên binh mã
Kim tinh mãnh thú vô yên số
Tụng kinh chú hình câu lực sỹ
Quan Âm cứu khổ hộ kỳ thân.

Thỉnh Quan Âm cứu khổ đao kiếp binh
Tụng tao trị kiếp vận đạo thủy tặc hỏa sinh
Đáng năng sám hối trì thứ kinh
Tự hữu thiên vương lai ủng hộ
Quan Âm cứu khổ hỏa thần long
Tụng kinh công đức bất khả tận số
Quần trân bất khả phụ thuật
Nhân dân trì tụng chuyên tuân hành
Hành cựu cựu bất đại
Tự nhiên tịch trú danh
Thiết mạc nghi tín tương
Báng khẩu tự tâm vi
Bất tuân hữu vọng hành
Để hủy định niên trảm
Thủ vân hình đại sát
Phạt biến thảo mộc trùng
Tử tôn mối một trừ căn

Từ Hàng Chân nhân lại viết rằng:
Tụng kinh tam giới rất linh mầu
Phóng kính người đời hay kính tụng
Tiêu tai giảm bệnh có sai đâu
Một tụng biến ngàn lành nhóm
Tụng luôn trăm biến hưởng sống lâu
Khoan thai thong thả lên tiên cảnh
Kiền kiền trì tụng cứ theo cầu

Tụng kinh Quan Âm xin giáng lâm
Nếu phạm bất nhân cùng bất tín
Vô lễ vô nghĩa các tội danh
Chính hay tụng kinh dìn sám hối
Quan Âm Đại Sỹ tha tội mình

Tụng kinh từ bi cứu khắp mười phương
Cả thảy tham sân si ái dục
Phạm bất kính tam bảo các tội hình
Chính hay sám hối tụng kinh này
Quan Âm Đại Sỹ cứu độ ngay

Tụng kinh Quan Âm thiên giáng hạ
Phép tiên không cúng độ chúng sinh
Chúng sinh sám hối tụng kinh này
Quan Âm Đại Sỹ độ tấu thiên

Tụng kinh Quan Âm xin giáng hạ
Phép đạo càng sâu bộ thương sinh
Chúng sinh sám hối tụng kinh này
Quan Âm Đại Sỹ cữu nguy nan

Tấu thỉnh Quan Âm Đại Sỹ
Chúng sinh mắc tội năm ngục môn
Nay xin sám hối tụng kinh này
Quan Âm Đại Sỹ diệt tội giữ hình hồn

Tấu thỉnh Quan Âm xin giáng hạ
Pháp thiên ứng giáng độ chúng sinh
Chúng sinh sám hối tụng kinh này
Quan Âm Đại Sỹ ký hiển danh

Tấu thỉnh Quan Âm xin giáng hạ
Có người kẻ phảm nhân mắc thế
Mắc phải nghiệp số cả đời sau
Trình hay giữ bụng mà sám hối
Thắp hương trì tụng Quan Âm kinh
Quan Âm Đại Sỹ hộ chân linh

Tấu thỉnh Quan Âm xin giáng hạ
Nhân Gian chẳng tấu thần hộ trạch
Lục đinh lục giáp cũng bỏ qua
Nay tụng kinh hối làm lành
Quan Âm Đại Sỹ hộ thư danh

Tấu thỉnh Quan Âm xin giáng hạ
Có kẻ bệnh tật dành theo mình
Cô hồn quả tú thật ác tinh
Tiền tài chẳng có đau cực hình
Nếu niệm Quan Âm trì tụng kinh
Quan Âm Đại Sỹ hiển phù linh

Tấu thỉnh Quan Âm xin giáng hạ
Có người vô kính cha với mẹ
Chửi vợ mắng con trẻ chẳng tha
Nếu nay sám hối trì kinh tụng
Quan Âm Đại Sỹ cứu phong nha

Tấu thỉnh Quan Âm Đại Sỹ
Có người gặp mãnh tinh tà
U âm mạch huyết cốt tủy đa
Nay tụng kinh này xin sám hối
Quan Âm Đại Sỹ cứu bệnh đa

Tấu thỉnh Quan Âm Đại Sỹ
Có người gặp cảnh oan gia
Cửa nhà tan tác danh ra ngoài đường
Nay tụng kinh này mà sám hối
Nhà cửa được yên danh đức hiền
Quan Âm Đại Sỹ cứu thiên niên

Tấu thỉnh Quan Âm Đại Sỹ
Có người thủy hỏa thiết long trì
Thân hình tai nạn huyết trì thân
Nay tụng kinh này xin sám hối
Quan Âm Đại Sỹ sửa tội yên

Tấu thỉnh Quan Âm Đại Sỹ
Nhà nào mồ mả mạch ưu phiền
Động cả tứ niên hạn đinh tuyệt
Nay xin sám hối tụng kinh này
Tự nhiên tiên thánh đưa người đến
Quan Âm độ phúc mộ kết tơ

Tấu thỉnh Quan Âm Đại Sỹ
Nhà nào con cái ngỗ ngược phi
Rượu chè hút chính nạn tứ ly
Tha phương cầu thực huyết tương trì
Nay xin sám hối tụng kinh này
Quan Âm Đại Sỹ giúp liền ngay

Kinh này Đại Sỹ Quan Âm dạy
Nhà nào kính trọng thiên với địa
Trung quân báo Quốc nguyện xả thân
Hiếu dưỡng song thân cha với mẹ
Anh thuận em nhường tình huynh đệ
Chồng ơn vợ nghĩa kiếp phu thê
Bạn bè tín thực thân trí cốt
Con trẻ dạy lời hiếu phúc ban

Thần tiên cảm ứng khai thiên tịch
Từ tiên thiên tịch bút biên tên
Chớ khá bán nghi trì bán tín
Miệng tụng lòng cải nói chẳng tuân
Như ai khinh khí lòng quấy phá
Định cho trăm phủ phạt thân hình
Phạt biến côn trùng và thảo mộc
Con cháu tuyệt tự chẳng trừ căn
Còn ai thành kính quy tâm lễ
Thần tiên ghi chép sổ trường sinh
Ba đời chín kiếp hưởng thanh bình

Thần tiên giáng hạ khắp trời chung
Cả thảy yêu ma tiêu thói giữ
Các loài quỷ sứ bặt hơi lung
Muôn đạo tường quang soi khắp hết
Ngày từng ác nghiệp biến thành không
Chốn chốn tinh thần đều khỏe mạnh
Nơi nơi độ lượng rất thương dung
Danh liệt tiên bang cùng tiên tịch
Hồn về thiên phủ với thiên cung
Thất tổ đặt lên chốn bồng lai
Cửu huyền thoát khỏi chốn minh trung
Gắng trí tinh chuyên cần tụng niệm
Chớ lòng hủy báng nói minh mông
Đại chúng ban hành đừng chế nại
Tự nhiên được hưởng chữ niên phong


Công dụng và ý nghĩa của Thần chú



Công dụng và ý nghĩa của  Thần chú
Những người hành trì Kinh Đại Thừa Phật Giáo đều có tụng các Thần Chú trong các thời khoá nhằm mục đích tiêu trừ nghiệp chướng oan khiên, thêm được phước lành tăng trưởng.
 Ý nghĩa chữ Thần Chú như trước đã giải thích là lời nói bí mật của chư Phật (Mật ngôn hay Phật ngôn), lời nói đặc biệt này chỉ có các đức Phật trong mười phương nghe biết mà nó không phải là thứ ngôn ngữ thường tình của các chúng sanh trong ba cõi sử dụng, cho nên những thứ ngôn ngữ này người phàm phu không thể nào hiểu rõ. Những ai muốn chư Phật, chư Bồ Tát trong mười phương gia hộ những khổ đau của cuộc đời chỉ cần hành trì Thần Chú được chỉ dẫn sẽ được linh ứng theo sở cầu.
Thần Chú của Mật Tông có nhiều loại và mỗi loại có công dụng riêng, nhưng các Thiền Gia trong các Thiền Môn chỉ chọn khoảng một số Thần Chú để sử dụng trong các buổi lễ như Cầu An, Cầu Siêu, Sám Hối, v.v... gồm có Thần Chú Lăng Nghiêm, Thần Chú Đại Bi và mười Thần Chú khác gọi là Thập Chú. Ý Nghĩa và công dụng các Thần Chú nói trên được giải thích như sau :
1)- Chú Lăng Nghiêm :
Công dụng của Thần Chú Lăng Nghiêm, theo Triết Lý Đạo Phật hay Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm trong Phật Học Phổ Thông Khoá VI và VII của Hoà Thượng Thích Thiện Hoa, trang 255 và 266 đức Phật nói : "Nếu người nào nghiệp chướng nặng nề không thể trừ được, ông (chỉ ông A Nan) nên dạy họ chí tâm trì chú Lăng-nghiêm này thì các nghiệp chướng đều tiêu diệt" và đức Phật nói tiếp : "Sau khi ta diệt độ các chúng sanh đời sau, nếu có người trì tụng chú này thì các tai nạn: thủy tai, hoả hoạn, thuốc độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, quỉ quái, v.v... đều chẳng hại được".
Chúng ta muốn đạt thành những ý nguyện cho cuộc sống được an lạc và thành quả trên con đường giác ngộ giải thoát thì phải chuyên cần hành trì thâm nhập Chú Lăng Nghiêm này để nhờ thần lực chuyển hoá. Điều đó chính đức Phật đã nói trong Kinh Lăng Nghiêm : "Ma Đăng Già là kẻ dâm nữ, không có tâm tu hành còn được thành quả Thánh, huống chi các ông là bậc Thanh văn, có chí cầu đạo vô thượng, lại trì tụng chú này, thì quyết định thành Phật rất dễ, cũng như thâu gió tung bụi, chẳng có khó gì."
2) - Chú Đại Bi :
Theo Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni giải thích : "Hồi đời quá khứ vô lượng ức kiếp, có đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời vì ngài Quán Thế Âm mà nói ra chú Đại Bi này. Lúc đó Ngài mới trụ bực Sơ Địa, sau khi nghe chú này rồi thì siêu chứng lên bậc Bát Địa liền, Ngài thấy hiệu nghiệm như vậy liền phát đại nguyện rằng: "Nếu qua đời vị lai có thể đem thần chú này ra làm lợi ích cho chúng sanh thì cho thân Ngài sanh ra ngàn cái tai ngàn con mắt," v.v...nguoiphattu.com
Ngài nguyện vừa xong thì quả nhiên tay mắt đều đầy đủ tất cả và lại được chư Phật Phóng quang soi đến thân Ngài, đồng thời soi khắp vô biên thế giới. Khi ấy Ngài lại phát nguyện nữa rằng : "Người nào nếu trì tụng chú này mỗi đêm 5 biến thì đặng tiêu hết những tội nặng sanh tử trong trăm ngàn vạn ức kiếp, đến lúc mạng chung thì có thập phương chư Phật hiện thân tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ. Bằng như người nào trì tụng chú này mà sau còn đọa vào ba đường ác và chẳng đặng sanh về cõi Phật hay chẳng đặng những pháp Tam Muội, chẳng biện tài, sở cầu không toại chí, nếu có mấy sự ấy, thì chú này không được xưng là Đại Bi Tâm Đà La Ni". Chỉ trừ những người tâm không thiện, chí không thành và lòng hay nghi thì không thấy hiệu nghiệm được liền mà thôi.
Theo Nhị Khoá Hiệp Giải của Hoà Thượng Thích Khánh Anh, trang 74 giải thích : "Thuở ấy, đức Quán Thế Âm rất kín nhiệm phóng ra hào quang lớn chiếu cả mười phương các cõi nước đều rực rỡ thành màu vàng ròng; rồi chấp tay bạch Phật rằng: Tôi có thần chú.... Đại Bi tâm Đà La Ni, nay tôi muốn nói ra để cho các chúng sanh đều đặng an lạc, vì nó có hiệu lực : tiêu trừ bệnh hoạn, tuổi sống lâu dài, thêm điều lành, dứt hết các tội, được toại tâm với sự mong cầu, nên được Phật hứa cho thuyết chú."
Đây là những sự linh ứng và diệu dụng của Thần Chú Đại Bi.
3)- Chú Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni :
Theo Như Ý Tâm Đà La Ni: Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại vì muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện nên Ngài bạch với Phật xin Ngài thuyết chú này. Những người trì tụng mà rõ được nghĩa thâm mật của chú này thì cái thắng lợi ấy cũng thí như cây như ý sanh ra những ngọc bảo châu như ý, tuỳ nguyện muốn cầu việc gì cũng được.
Lúc Bồ Tát thuyết chú này rồi, sáu chưởng chấn động, cung điện của Ma Vương đều nổi lửa cháy sợ hãi không cùng, các loài độc ác chúng sanh đều lăn nhào té ngã, còn những kẻ thọ khổ trong địa ngục và ngạ quỷ thì đều đặng sanh về cõi Trời.nguoiphattu.com
Người nào nhứt tâm trì tụng chú này thì các thứ tai nạn đều được tiêu trừ mà đến lúc lâm chung lại được thấy đức Phật A Di Đà và Ngài Quán Thế Âm tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ.
4) - Thần Chú Tiêu Tai Cát Tường :
Theo Kinh Tiêu tai Cát Tường : "Khi Phật ở tại từng trời Tịnh Cư nói với các thiên chúng cùng các vị quản lý 28 ngôi sao và 12 cung thần rằng : "Có chú Xí Thạnh Quảng Đại Oai Đức Đà La Ni" của Phật Ta La Vương đã nói hồi trước. Ta nay thuyết ra đây là pháp để trừ những tai nạn. Nếu trong Đế đô quốc giới có các vị đặc trách sao yêu tinh đến làm những điều chướng nạn, hay những vị đặc trách sao quan hệ bổn mạng của nhân loại có gì bất tường phải lập đạo tràng, rồi khắc ký mà niệm chú này 108 biến thì tai chướng tức thời trừ diệt hết."
5) - Thần Chú Công Đức Bảo Sơn :
Theo Viên Nhơn Vãng Sanh có dẫn chứng Kinh Đại Tập nói rằng : "Nếu người tụng chú này một biến thì công đức cũng như lễ Kinh Đại Phật Danh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến (45.400), còn như phạm tội nặng đang đọa vào địa ngục A Tì mà nhứt tâm trì tụng chú này thì trong lúc mạng chung chắc đặng sanh về bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh bên cõi Tịnh Độ mà đặng thấy Phật A Di Đà."
6) - Thần Chú Phật Mẫu Chuẩn Đề :
Câu chú này trích trong Kinh Chuẩn Đề. Bốn câu kệ đầu là : "Khể thủ quy y Tô tất Đế," v.v... cho đến "Duy nguyện từ bi thùy gia hộ" là của Ngài Long Thọ Bồ Tát. Trong bốn câu kệ :
* Câu đầu là nói về Pháp Bảo : câu hai là nói về Phật Bảo; câu thứ ba là nói về Tăng Bảo; câu thứ tư là nói mình xin nhờ ơn sự gia hộ của Tam Bảo.
* Khể thủ quy y Tô Tất Đế : nghĩa là cúi đầu quy kính Pháp Viên Thành (pháp nhiệm mầu). Chữ Tô Tất Đế : nguyên tiếng Phạn là Susidhi, Tàu dịch là Diệu Thành Tựu, nghĩa là một pháp có năng lực thành tựu được hết thảy sự lý và thành tựu đặng hết thảy tâm nguyện của chúng sanh rất mầu nhiệm.
* Đầu diện đảnh lễ Thất Cu Chi (cu đê) : nghĩa là thành tâm đảnh lễ bảy trăm ức Phật. Chữ "Cu Chi" hay là "Cu Đê", nguyên tiếng Phạn là "Koti", Tàu dịch là bách ức, nghĩa là trăm ức; cho nên trên đây nói "thất cu chi" tức là số bảy trăm ức vậy.
* Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề : nghĩa là con nay xưng tán đức Đại Chuẩn Đề. Chữ "Chuẩn Đề", nguyên tiếng Phạn là "Candi", Tàu dịch có hai nghĩa : 1) Thi Vi, 2) Thành Tựu.
Thi Vi : nghĩa là lời nguyện rộng lớn đúng nơi lý và dùng đại trí để dứt vọng hoặc, vì đủ các nhơn hạnh để ra làm việc lợi tha cho chúng sanh, nên gọi là Thi Vi.
Thành Tựu : nghĩa là từ nơi pháp không mà hiện ra pháp giả rồi thành tựu đặng pháp tịch diệt.
Sở dĩ Chú này xưng là "Phật Mẫu Chuẩn Đề" là nói : Pháp là thầy và thiệt trí, là mẹ của chư Phật, cho nên bảy trăm ức Phật đều dùng pháp "Chuẩn Đề Tam Muội" mà chứng đạo Bồ Đề.
Trong kinh Chuẩn Đề nói rằng : Khi Phật ở vườn Kỳ Đà vì có tứ chúng bát bộ đông đủ, Ngài nghĩ thương những chúng sanh đời mạt pháp sau này, tội dày phước mỏng, nên mới nhập "Chuẩn Đề Định" mà thuyết thần chú như vầy:nguoiphattu.com
Nam Mô Tát Đa Nẩm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẩm, Đát Điệt Tha, Án, Chiết Lệ Chủ Lệ Chuẩn Đề, Ta bà Ha.
Phật nói : Nếu trì chú này mãn chín mươi vạn (900.000) biến thì diệt trừ được các tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng; cho đến nhà thế tục chẳng luận tịnh hay uế, chỉ cần chí tâm trì tụng, liền được tiêu trừ tai nạn bệnh hoạn, tăng trưởng phước thọ. Khi tụng mãn 49 ngày, Bồ Tát Chuẩn Đề khiến hai vị Thánh thường theo người ấy hộ trì.
Nếu có người hoặc cầu mở trí tuệ, hoặc cầu chống tai nạn, hoặc cầu pháp thần thông, hoặc cầu đạo Chánh Giác, chỉ y theo pháp thiết lập đàn tràng, tụng đủ một trăm vạn (1.000.000) biến thì đặng đi khắp mười phương Tịnh Độ, phụng thờ chư Phật, nghe cả diệu pháp mà được chứng quả Bồ Đề.
7) - Thần Chú Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni :
Chú này trích trong Kinh Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà La Ni. Kinh ấy nói : "Đức Thích Ca Thế Tôn nghĩ thương chúng sanh đoản mạng trong đời vị lai, muốn cho thêm được thọ số, hưởng được hạnh phúc, nên Phật nói với Đại Trí Huệ Diệu Cát Tường Bồ Tát rằng: những nhơn loại ở trong cõi Diêm Phù Đề này thọ mạng chỉ đặng trăm tuổi, mà ở trong số đó lại có phần đông người tạo lắm điều ác nghiệp nên bị tổn đức giảm kỷ thác yểu chết non. Nếu như nhơn loại thấy đặng chú này, hoặc biên chép, hoặc ấn tống, hoặc thọ trì đọc tụng thì lại tăng thọ mạng sống ngoài trăm tuổi và qua đời sau mau chứng quả Bồ Đề."
8) - Thần Chú Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn :
Thần chú này được trích ra từ nơi Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức. Theo như trong kinh, đức Thích Ca Như Lai nói nếu có chứng bệnh gì mà cứ nhứt tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống vào thì các bệnh đều lành.
Còn như những người mà trọn đời thọ trì chú này thì đặng khỏi bệnh tật và được sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sanh về cõi Tịnh Lưu Ly. Nhưng phải biết rằng : chú này được gọi là "Quán Đảnh" là nói chú này do nơi đảnh quang của Phật mà thuyết ra. Người nào nếu thọ trì đọc tụng chú này mà đặng thanh tịnh ba nghiệp (thân, miệng, ý) thì hào quang Phật chiếu ngay đến nơi đảnh môn của người trì tụng ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy.
Nên biết ánh quang của Phật khác hơn ánh quang của ma, nguyên vì ánh quang của ma thì chói loà khiến cho người ta sợ hãi, còn ánh quang của Phật thì mát mẻ và làm cho ta vui mừng. Vậy ai là người thọ trì chú này hoặc niệm Phật cần phải phân biệt rõ hai cái ánh quang nói trên. Chớ đừng thấy ánh quang của ma lập lòe trước mắt như ngoại đạo nhìn nến, như kẻ nhìn nhang kia mà nhận lầm cho là thấy tánh.
9)- Thần Chú Quán Âm Linh Cảm Chơn Ngôn :
Đức Quán Thế Âm có lòng Đại Bi rất tha thiết, bi nguyện của Bồ Tát rất thâm sâu, công đức độ sanh của Bồ Tát lan rộng khắp mười phương. Người nào thành tâm trì tụng chú này thì liền được lòng Đại Bi của Bồ Tát chắc chắn ủng hộ.
10) - Thần Chú Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn :
Chú này được trích ra từ trong kinh Đại Phương Đẳng Đà La Ni. Kinh này nói : "Ngài Văn Thù Sư Lợi nghĩ thương về sau đến đời mạt pháp các chúng Tỳ Kheo phạm tội Tứ Trọng và các chúng Tỳ Kheo Ni phạm tội Bát Trọng thì làm sao mà sám hối đặng, nên mới cầu Phật chỉ rõ phương pháp. Lúc ấy Đức Thích Ca Như Lai mới thuyết ra chú này; vì chú này là chú của bảy vị Phật đời trước thường nói, rất có oai lực làm diệt hết các tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch mà đặng phước vô lượng".nguoiphattu.com
Tứ Trọng, Ngũ Nghịch là tội rất nặng, nếu không phải cách sám hối vô sanh thì tưởng không thể nào tiêu diệt cho đặng. Nhưng vì thần chú này là bảy vị Phật đời trước xứng tánh thuyết ra, cho nên những người trì tụng niệm niệm cũng phải xứng tánh để đặng lý vô sanh thì tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt, cũng như nước sôi đổ vào tuyết thì tuyết liền bị tan biến ngay lập tức.
11) - Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ :
Thần chú này được trích từ trong kinh Bạt Nhứt Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni. Thần chú này có công dụng diệt được các trọng tội như : tội Tứ Trọng, Ngũ Nghịch, Thập Ác, Hủy Báng Chánh Pháp. Người nào nếu y pháp mà chí tâm trì tụng chú này thì Đức Phật A Di Đà thường trụ ở nơi đảnh đầu người ấy luôn cả ngày đêm mà ủng hộ, không cho oan gia thừa tiện nhiễu hại, trong lúc hiện thế đặng an ổn và đến khi mạng chung được vãng sanh Tịnh Độ.
Cách thức hành trì, Trước khi trì tụng chú này, hành giả phải tắm rửa, súc miệng cho sạch sẽ, ngày đêm sáu thời, thắp hương lễ Phật, quì gối trước bàn thờ, chấp tay cung kính trì tụng mỗi thời tối thiểu 21 biến thì được linh ứng và hoặc trì tụng được ba vạn (300.000) biến thì được thấy đặng Phật A Di Đà thọ ký.
12) - Thần Chú Thiện Thiên Nữ :
Thần chú này được trích từ trong kinh Kim Quang Minh. Trong kinh Kim Quang Minh nói rằng : "Nếu chúng sanh nghe nói chú này mà một lòng thọ trì đọc tụng hương hoa cúng dường thì những thứ thọ dụng như vàng, bạc, châu báu, trâu dê, lúa thóc đều đặng đầy đủ hết thảy".
VI.- TỔNG KẾT :
Nên để ý các Kinh Chú của Phật để lại trong Đại Tạng thì rất nhiều, đa dạng theo mỗi vị Phật trình bày mỗi cách qua kinh nghiệm tu tập của mình. Các Thiền gia thời xưa qua kinh nghiệm của họ rút ra trong Đại tạng một số Kinh Chú theo nhu cầu phổ thông chẳng những cho quần chúng mà cho cả người xuất gia trong thời mạt pháp nghiệp trọng phước khinh ma cường pháp nhược này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để trì tụng là của những vị Phật, những vị Bồ Tát rất quan hệ với các chúng sanh nơi cõi Ta bà ngũ trược ác thế này. Còn các Kinh Chú khác của các vị Phật hay của các vị Bồ Tát khác chỉ quan hệ nhiều với các chúng sanh trong các cõi khác không có ngũ trược ác thế như cõi Ta Bà này. Những Kinh Chú mà các Thiền gia chọn ra để hành trì có những mục đích như sau :nguoiphattu.com
1)- Những Kinh Tụng nêu trên ngoài sự Tu Huệ của hành giả và còn nhờ sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ giúp hành giả sớm hoàn thành hạnh nguyện đạt đạo.
2)- Còn các Kinh khác nhằm tu tập bao gồm Văn Huệ, Tư Huệ và Tu Huệ trong lãnh vực tự độ và tự giác mà không cần sự gia hộ của chư Phật, chư Bồ Tát quan hệ, được gọi là tự lực cánh sinh.
3)- Các Thần Chú nêu trên mà các Thiền gia chọn lựa được rút ra trong các Kinh Tạng của chư Phật chỉ dạy để các hành giả hành trì ngõ hầu đạt được ý nguyện mà không bị phân tâm, không bị loạn tưởng, không bị tẩu hoả nhập ma.
4)- Còn các Thần Chú khác một số không thấy trong các Kinh Phật mà chỉ thấy trong Mật Tông nếu như hành trì mà thiếu sự hướng dẫn chơn truyền qua sự kinh nghiệm của những người đi trước thì sẽ bị nguy hiểm phân tâm, loạn tưởng, tẩu hoả nhập ma.
Các Thiền gia Việt Nam cũng chọn những Kinh những Chú đã được liệt kê ở trước ngoài những mục đích và ý nghĩa vừa trình bày còn có mục đích khác là thể hiện văn hoá Phật Giáo Việt Nam mà các Thiền gia Việt Nam đem sự đạt đạo xây dựng quốc gia. Nhìn theo Văn Hoá Phật Giáo Việt Nam, Nhị Thời Khoá Tụng mà các Thiền gia Việt Nam thường sử dụng trong khoá lễ hằng ngày dành cho các Thiền sinh hành trì, ngoài sự tu tập để chứng đắc và còn tiêu biểu cho ba hệ phái Thiền đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực văn hoá trải dài hơn 2000 năm lịch sử. Điều đó được thấy như :
a)- Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Trúc Lâm Tam Tổ đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia Việt Nam trên lãnh vực thuần tuý thiền tập.
b)- Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từng đóng góp xây dựng cho quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thiền Mật Tổng Hợp.
c)- Thiền Phái Thảo Đường đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thi Ca và Nghệ Thuật.
d)- Thiền phái Liễu Quán đã từng đóng góp xây dựng quốc gia Việt Nam trên lãnh vực Thiền Tịnh Song Tu. Từ những ý nghĩa và giá trị này, chúng ta là người Việt Nam không nên xem thường Nhị Thời Khoá Tụng mà Thiền gia Việt Nam đã chọn và cũng chứng minh rằng các Thiền gia Việt Nam nhờ Nhị Thời Khoá Tụng này được chứng đắc, cho nên mới để lại cho hậu thế hành trì./.
Sưu tập trong Nhị Khoá Hiệp Giải của Hoà Thượng Thích Khánh Anh dịch và trong Bạch Y Thần Chú của Đường Sáng Ấn Quán số 712N. 9th St, San Jose, CA 95112 ấn hành.